Sở hữu trí tuệ bản quyền là gì? Tác giả có những quyền gì?
Mục lục
Với dòng chảy công nghệ như hiện nay, giá trị của một doanh nghiệp hay một cá nhân đôi khi không nằm ở khối tài sản hữu hình như nhà xưởng, máy móc…, mà nằm ở những tài sản vô hình như: một phần mềm độc quyền, một thiết kế nhãn hiệu bắt mắt, một bài hát triệu view hay một công thức kinh doanh độc nhất. Tất cả những tài sản “chất xám” đó được bao bọc và bảo vệ bởi một thuật ngữ pháp lý chung là quyền sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, trên thực tế, có đến 80% mọi người thường nhầm lẫn, đánh đồng các khái niệm sở hữu trí tuệ và bản quyền với nhau dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng trong việc tự bảo vệ quyền lợi cá nhân hoặc doanh nghiệp.
1. Quy định pháp lý về sở hữu trí tuệ bản quyền là gì?
Bản quyền là một phần của sở hữu trí tuệ, theo khoản 1 Điều 3 Luật sở hữu trí tuệ 2009 sửa đổi bổ sung 2019, 2022, 2025 (Luật SHTT) quy định:
“Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.”

Sở hữu trí tuệ bản quyền là gì? Theo quy định trên, có thể hiểu bản quyền (quyền tác giả) là một phần của quyền sở hữu trí tuệ. Quyền sở hữu trí tuệ được chia làm 3 phần lớn gồm:
- Quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả (thường được gọi là Bản quyền).
- Quyền sở hữu công nghiệp: sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.
- Quyền đối với giống cây trồng.
2. Quyền tác giả (Bản quyền) gồm những quyền gì?
Tại khoản 2 Điều 3 Luật SHTT có giải thích: “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.”
Đồng thời trong khoản 1 Điều 6 Luật SHTT quy định: “Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.”
Như vậy, quyền tác giả đối với một tác phẩm (bài viết, bức tranh, bài hát, mã code…) được hình thành ngay lập tức tại thời điểm bạn vừa sáng tạo xong và thể hiện nó ra ngoài thực tế (viết ra giấy, vẽ lên máy tính, ghi âm vào điện thoại…). Việc bạn có đi nộp hồ sơ đăng ký tại Cục Bản quyền tác giả hay không, tác phẩm đó hay hay dở, đã xuất bản ra công chúng hay chưa… đều không ảnh hưởng đến tư cách chủ sở hữu bản quyền của bạn. Tuy nhiên, dù luật quy định quyền tác giả là tự động phát sinh, nhưng trên thực tế nếu có ai đó “đạo nhái” tác phẩm của bạn, bạn vẫn là người có nghĩa vụ phải đưa ra bằng chứng chứng minh mình là người làm ra nó trước.
Vì vậy, quy định “…không phân biệt đã đăng ký hay chưa đăng ký” là để bảo vệ quyền lợi tự nhiên của bạn, nhưng việc chủ động đi đăng ký bản quyền tác giả vẫn là giải pháp an toàn nhất để bạn có tấm khiên pháp lý vững chắc, không tốn công sức đi chứng minh nguồn gốc khi xảy ra tranh chấp sau này.

Theo Điều 18 Luật SHTT quy định: Quyền tác giả đối với tác phẩm quy định tại Luật này bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản. Cụ thể:
“Điều 19. Quyền nhân thân
Quyền nhân thân bao gồm:
1. Đặt tên cho tác phẩm.
Tác giả có quyền chuyển quyền sử dụng quyền đặt tên tác phẩm cho tổ chức, cá nhân nhận chuyển giao quyền tài sản quy định tại khoản 1 Điều 20 của Luật này;
2. Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng;
3. Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;
4. Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác xuyên tạc; không cho người khác sửa đổi, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.
Điều 20. Quyền tài sản
1. Quyền tài sản bao gồm:
a) Làm tác phẩm phái sinh;
b) Biểu diễn tác phẩm trước công chúng trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các bản ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào tại địa điểm mà công chúng có thể tiếp cận được nhưng công chúng không thể tự do lựa chọn thời gian và từng phần tác phẩm;
c) Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc một phần tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 3 Điều này;
d) Phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng thông qua bán hoặc hình thức chuyển giao quyền sở hữu khác đối với bản gốc, bản sao tác phẩm dưới dạng hữu hình, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều này;
đ) Phát sóng, truyền đạt đến công chúng tác phẩm bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác, bao gồm cả việc cung cấp tác phẩm đến công chúng theo cách mà công chúng có thể tiếp cận được tại địa điểm và thời gian do họ lựa chọn;
e) Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính, trừ trường hợp chương trình máy tính đó không phải là đối tượng chính của việc cho thuê.
2. Các quyền quy định tại khoản 1 Điều này do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép tổ chức, cá nhân khác thực hiện theo quy định của Luật này.
Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại khoản 1 Điều này và khoản 3 Điều 19 của Luật này phải được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả và trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu có) cho chủ sở hữu quyền tác giả, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, các điều 25, 25a, 26, 32 và 33 của Luật này. Trường hợp làm tác phẩm phái sinh mà ảnh hưởng đến quyền nhân thân quy định tại khoản 4 Điều 19 của Luật này còn phải được sự đồng ý bằng văn bản của tác giả.
3. Chủ sở hữu quyền tác giả không có quyền ngăn cấm tổ chức, cá nhân khác thực hiện các hành vi sau đây:
a) Sao chép tác phẩm chỉ để thực hiện các quyền khác theo quy định của Luật này; sao chép tạm thời theo một quy trình công nghệ, trong quá trình hoạt động của các thiết bị để truyền phát trong một mạng lưới giữa các bên thứ ba thông qua trung gian hoặc sử dụng hợp pháp tác phẩm, không có mục đích kinh tế độc lập và bản sao bị tự động xóa bỏ, không có khả năng phục hồi lại;
b) Phân phối lần tiếp theo, nhập khẩu để phân phối đối với bản gốc, bản sao tác phẩm đã được chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện hoặc cho phép thực hiện việc phân phối.”
3. Dịch vụ đăng ký bản sở hữu trí tuệ bản quyền
Văn phòng Luật sư Đăng ký bản quyền cung cấp dịch vụ bảo vệ tài sản trí tuệ toàn diện như sau:
- Tra cứu và Đăng ký quyền tác giả nhanh: Thay mặt Khách hàng hoàn thiện hồ sơ độc quyền cho tác phẩm văn học, mỹ thuật ứng dụng (logo), mã nguồn phần mềm, bài hát… Nhận kết quả Giấy chứng nhận quyền tác giả nhanh chóng, đúng quy định pháp luật.
- Đăng ký bảo hộ Sở hữu công nghiệp: Tra cứu khả năng bảo hộ, tối ưu hóa hồ sơ và đại diện nộp đơn đăng ký Nhãn hiệu, Sáng chế, Kiểu dáng công nghiệp… tại Cục Sở hữu trí tuệ.
- Xử lý tranh chấp và gỡ gậy bản quyền: Đại diện khách hàng tham gia đàm phán, gửi thư cảnh báo, khởi kiện các hành vi vi phạm bản quyền hoặc hỗ trợ quy trình khiếu nại bản quyền trên các nền tảng mạng xã hội và sàn thương mại điện tử quốc tế.
